emxinh8x
01-15-2009, 08:53 AM
Thơ Đường Luật c̣n có những tên gọi khác nhau như: Thơ Đường, Đường Thi, Thất Ngôn Bát Cú và Thất Ngôn Bát Cú Đường Luật. Thơ Đường Luật có 2 loại: Tứ Tuyệt (tức mỗi câu có 7 chữ và mỗi bài có 4 câu) và Bát Cú (tức mỗi câu có 7 chữ và mỗi bài có 8 câu).
A- Thể Thất Ngôn Bát Cú
I- Cách Gieo Vần: Thơ Đường Luật có luật lệ nhất định của nó, bạn không thể biến chế một cách khác được. Cách gieo vần như sau:
- Suốt bài thơ chỉ gieo theo một vần mà thôi. Ví dụ: Vần ơi th́ đi với ơi, vần tâm th́ đi với tâm hoặc tầm.
- Trong bài thơ có 5 chữ vần được gieo ở cuối câu đầu (câu số 1) và ở cuối các câu chẵn (2, 4, 6 và 8). Ngoài việc các chữ cuối của câu 1,2,4,6,8 phải cùng một vần ra, cả 5 chữ mang vần đó phải khác nhau, trừ khi cùng chữ nhưng khác nghĩa (Ví dụ: dặm trường và mái trường or trái mơ và giấc mơ…)
- Gieo vần th́ phải hiệp vận (tức cho đúng vận của nó). Ví dụ: hương, thương, trường... Nếu gieo vần thưa với thây th́ bị lạc vận. C̣n nếu gieo vần không hiệp với nhau th́ gọi là cưỡng vận hay ép vận, chẳng hạn như: in với tiên.
II- Nguyên Tắc Đối: Các câu đối với nhau phải thật chỉnh, cả về ư, t́nh, và thể loại từ ngữ, v.v... Thể loại từ ngữ tức tính từ phải đối với tính từ, danh từ phải đối với danh từ, động từ phải đối với động từ, v.v...
Trong bài thơ có 4 phần: Đề (gồm có Phá đề và Thừa đề ) Thực hoặc Trạng, Luận, và Kết.
1. Đề gồm có hai phần:- Phá đề (câu thứ 1):
Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà,
- Thừa đề (câu thứ 2):
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
2. Thực hoặc trạng (câu thứ 3 và câu thứ 4): Hai câu này phải đối với nhau.
Lom khom dưới núi, tiều vài chú,
Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.
Ghi chú: Lom khom đối với lác đác (trạng tự ) và bằng đối với trắc. Tiều đối với chợ (danh từ ) và bằng đối với trắc. Chú đối với nhà (danh từ ) và trắc đối với bằng.
3. Luận (câu thứ 5 và câu thứ 6): Luận có nghĩa là luận bàn. Hai câu này bàn bạc
thêm về nội dung của bài thơ, về phong cảnh hay về t́nh cảm. Hai câu này phải đối với nhau.
Nhớ nước, đau ḷng con quốc quốc
Thương nhà, mỏi miệng cái gia gia
Ghi chú: Nhớ đối với thương (động từ ) và trắc đối với bằng. Nước đối với nhà (danh từ ) và trắc đối với bằng. Đau ḷng đối với mỏi miệng (trạng từ ) và bằng đối với trắc. Con quốc quốc đối với cái gia gia (danh từ ) và trắc đối với bằng.
4. Kết (câu thứ 7 và câu thứ 8): Hai câu kết không nhất thiết phải đối nhau, nhưng phải giữ luật bằng trắc.
Dừng chân đứng lại: trời, non, nước,
Một mảnh t́nh riêng ta với ta
(Qua Đèo Ngang - Bà Huyện Thanh Quan)
Ghi chú: Dừng chân là vần bằng đối với một mảnh là vần trắc; đứng lại là vần trắc đối với t́nh riêng là vần bằng; nước là vần trắc đối với ta là vần bằng.
III- Luật Bằng Trắc: Luật Bằng Trắc gồm có Thanh, Luật, và Niêm.
1. Thanh: Gồm có Thanh Bằng và Thanh Trắc.
a) Thanh Bằng: là những tiếng hay chữ không có dấu (như: minh, lan, thanh, trinh...) và những tiếng hay chữ có dấu huyền (ví dụ như: mà, hoàng, thành, tŕnh...)
b) Thanh trắc: Là những tiếng hay chữ có dấu sắc (') dấu hỏi (?) dấu ngă (~) và dấu nặng (.). Ví dụ: Nhớ, tưởng, lữ, vọng…
2. Luật: Thơ bát cú làm theo hai luật: Luật Bằng và Luật Trắc.
a) Luật Bằng: Chữ thứ hai ở câu đầu thuộc vần Bằng. Ví dụ:
Vu vơ dạo bước ngắm trời xinh
Luật Bằng Vần Bằng-Cách dùng mẫu tự và viết tắt như sau: B = Bằng, T = Trắc và V = Vần. Luật Bằng Vần Bằng như sau:
1. B B T T T B B (V)
2. T T B B T T B (V)
3. T T B B B T T
4. B B T T T B B (V)
5. B B T T B B T
6. T T B B T T B (V)
7. T T B B B T T
8. B B T T T B B (V)
Ví dụ:
Mời cô đến với góc vườn thơ
Khánh tiếng lung lay gót nhẹ chờ
Thi vận mực tươi hoa khẽ hé
Hoạ âm giấy liễng nhạc đường tơ
Nghe mưa tí tách buông màn khói
Thử gió vi vu thoảng giấc mơ
Một cách gieo hồn đùa lăng tử
Bài này chớ để ngó chơ vơ
b) Luật Trắc: Chữ thứ hai ở câu đầu thuộc vần Trắc. Ví dụ:
Luyến nhớ trời quê buổi nắng vàng
Luật Trắc Vần Bằng-Luật Trắc Vần Bằng như sau:
1.T T B B T T B (V)
2.B B T T T B B (V)
3.B B T T B B T
4.T T B B T T B (V)
5.T T B B B T T
6.B B T T T B B (V)
7.B B T T B B T
8.T T B B T T B (V)
Ví dụ:
Văng VẲNG tai NGHE tiếng KHÓC ǵ?
Thương CHỒNG nên KHÓC tỉ T̀ tị
Ngọt BÙI, thiếp NHỚ mùi CAM thảo,
Cay ĐẮNG, chàng ƠI, vị QUẾ chị
Thạch NHŨ, trần B̀, sao ĐỂ lại,
Quy THÂN, liên NHỤC, tẩm MANG đị
Dao CẦU, thiếp BIẾT trao AI nhỉ?
Sinh KƯ, chàng ƠI, tử TẮC quỵ
(Bà Lang Khóc Chồng - Hồ Xuân Hương)
Chú Thích: Những chữ IN HOA (chữ thứ 2, 4 và 6) đều phải theo đúng luật, c̣n những chữ khác (trừ chữ ở cuối câu) có thể không cần phải theo luật. Mẹo để nhớ:
Nhất (chữ thứ 1), tam (chữ thứ 3), ngũ (chữ thứ 5) bất luận
Nhị (chữ thứ 2), tứ (chữ thứ 4), lục (chữ thứ 6) phân minh
Nghĩa là chữ thứ nhất, thứ ba và thứ năm không kể (bất luận), tức không nhất thiết phải theo đúng luật; c̣n chữ thứ hai, thứ tư và thứ sáu th́ bắt buộc phải theo luật (phân minh). Nếu không theo luật th́ gọi là thất luật.
3. Niêm-Những chữ phải đi cặp với nhau và dính với nhau
Ví du: Luật Bằng
Câu 1 niêm với câu 8
1.B B T T T B B (V)
8.B B T T T B B (V)
Câu 2 niêm với câu 3
2.T T B B T T B (V)
3.TT B B B T T
Câu 4 niêm với câu 5
4.B B T T T B B (V)
5.B B T T B B T
Câu 6 niêm với câu 7
6.T T B B T T B (V)
7.T T B B B T T
Ví dụ: Luật Trắc
Câu 1 niêm với câu 8
1. T T B B T T B (V)
8. T T B B T T B (V)
Câu 2 niêm với câu 3
2. B B T T T B B (V)
3. B B T T B B T
Câu 4 niêm với câu 5
4. T T B B T T B (V)
5. T T B B B T T
Câu 6 niêm với câu 7
6. B B T T T B B (V)
7. B B T T B B T
Cũng có trường hợp nhà thơ làm sai luật, thay v́ đang ở Luật Bằng th́ lại đổi sang Luật Trắc. V́ Niêm không đi với nhau nên gọi là Thất Niêm.
Ví dụ: Dùng bài thơ Cảnh Làm Lẽ (Lấy Chồng Chung) của Hồ Xuân Hương (đúng niêm luật) để đổi sang thất niêm (xem chữ thứ 2 IN HOA):
Kẻ ĐẮP chăn bông, kẻ lạnh lùng,
Chém CHA cái kiếp lấy chồng chung!
Năm TH̀ mười họa, nên chăng chớ,
Một THÁNG đôi lần, có cũng không...
Cố ĐẤM ăn xôi, xôi lại hỏng,
Cầm BẰNG làm mướn, mướn không công.
Thân NÀY ví biết dường này nhỉ,
Thà TRƯỚC thôi đành ở vậy xong.
Đổi thành thất niêm:
Kẻ ĐẮP chăn bông, kẻ lạnh lùng,
Chém CHA cái kiếp lấy chồng chung!
Cố ĐẤM ăn xôi, xôi lại hỏng *** (thất niêm) ***
Cầm BẰNG làm mướn, mướn không công.
Năm TH̀ mười họa, nên chăng chớ,
Một THÁNG đôi lần, có cũng không...
Thân NÀY ví biết dường này nhỉ,
Thà TRƯỚC thôi đành ở vậy xong.
Chú ư: Dù chỉ đặt sai có một câu (câu thứ 3) nhưng bị thất niêm toàn bài thơ. Thế mới biết luật thơ Đường khắt khe biết dường nào!
Khi làm thơ Đường Luật th́ phải giữ cho đúng niêm luật. Nếu không, dù bài thơ của bạn có nội dung hay mấy đi nữa th́ cũng không thể chấp nhận được.
Như đă nêu ra ở trên là các câu đối với nhau phải thật chỉnh. Có điều là không bắt buộc phải từng chữ một đối nhau mà có thể đối theo cụm từ. Nếu 3 chữ tạo thành nhóm danh từ (ở câu 3 chẳn hạng) th́ ở câu 4 cũng dùng 3 chữ cùng nhóm để đối lại
Ví dụ:
Ngày vương măi nhớ hương t́nh cũ
Tháng quyện hoài mong bóng dáng xưa
(Trích "Xóm Tịnh Chiều Luyến Nhớ" -Vân Hạc)
ngày (danh từ, bằng) đối với tháng (danh từ, trắc)
vương (động từ, bằng) đối với quyện (động từ, trắc)
măi (phó từ, trắc) đối với hoài (phó từ, bằng)
nhớ (động từ, trắc) đối với mong (động từ, bằng).
hương t́nh cũ (cụm danh từ) đối với bóng dáng xưa (cụm danh từ)
B.Thơ Tuyệt Cú
Tuyệt cú theo nghĩa đen là ngắt câụ Là một thể thơ bốn câu (c̣n gọi là tứ tuyệt), có thể là cổ phong hoặc thơ luật, nhưng ư tứ, ư nghĩa phải trọn vẹn, sâu sắc. Cũng phải có mở có kết, có thể hiện nội dung chủ đề ḿnh định nói
Ví dụ:
Chim buồn lẻ bạn chốn thâm sơn
Cánh ngă chao nghiêng ngắm nguyệt thường
Én lạc cô pḥng thương nắng hạ
Diều đây lẻ phận nhớ thu đơn
(Nguyễn Duy)
Lối làm thơ tuyệt cú có thể tuân theo luật bốn câu đầu hoặc bốn câu cuối của ngũ ngôn hoặc thất ngôn. Ở thể cổ phong, thơ tuyệt cú càng rộng răi hơn, các câu thơ không cần đối, không phụ thuộc luật bằng trắc, miễn là ư tứ sâu sắc, lời đẹp, giầu âm điệu ...
Phong Kiều Dạ Bạc (Trương Kế )
Nguyệt lạc ô đề sương măn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền
Đêm thuyền đậu bến Phong Kiều (Bản dịch của Tản Đà)
Trăng tà, chiếc quạ kêu sương,
Lửa chài, cây bến, sầu vương giấc hồ.
Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.
(Sưu tầm)
A- Thể Thất Ngôn Bát Cú
I- Cách Gieo Vần: Thơ Đường Luật có luật lệ nhất định của nó, bạn không thể biến chế một cách khác được. Cách gieo vần như sau:
- Suốt bài thơ chỉ gieo theo một vần mà thôi. Ví dụ: Vần ơi th́ đi với ơi, vần tâm th́ đi với tâm hoặc tầm.
- Trong bài thơ có 5 chữ vần được gieo ở cuối câu đầu (câu số 1) và ở cuối các câu chẵn (2, 4, 6 và 8). Ngoài việc các chữ cuối của câu 1,2,4,6,8 phải cùng một vần ra, cả 5 chữ mang vần đó phải khác nhau, trừ khi cùng chữ nhưng khác nghĩa (Ví dụ: dặm trường và mái trường or trái mơ và giấc mơ…)
- Gieo vần th́ phải hiệp vận (tức cho đúng vận của nó). Ví dụ: hương, thương, trường... Nếu gieo vần thưa với thây th́ bị lạc vận. C̣n nếu gieo vần không hiệp với nhau th́ gọi là cưỡng vận hay ép vận, chẳng hạn như: in với tiên.
II- Nguyên Tắc Đối: Các câu đối với nhau phải thật chỉnh, cả về ư, t́nh, và thể loại từ ngữ, v.v... Thể loại từ ngữ tức tính từ phải đối với tính từ, danh từ phải đối với danh từ, động từ phải đối với động từ, v.v...
Trong bài thơ có 4 phần: Đề (gồm có Phá đề và Thừa đề ) Thực hoặc Trạng, Luận, và Kết.
1. Đề gồm có hai phần:- Phá đề (câu thứ 1):
Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà,
- Thừa đề (câu thứ 2):
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
2. Thực hoặc trạng (câu thứ 3 và câu thứ 4): Hai câu này phải đối với nhau.
Lom khom dưới núi, tiều vài chú,
Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.
Ghi chú: Lom khom đối với lác đác (trạng tự ) và bằng đối với trắc. Tiều đối với chợ (danh từ ) và bằng đối với trắc. Chú đối với nhà (danh từ ) và trắc đối với bằng.
3. Luận (câu thứ 5 và câu thứ 6): Luận có nghĩa là luận bàn. Hai câu này bàn bạc
thêm về nội dung của bài thơ, về phong cảnh hay về t́nh cảm. Hai câu này phải đối với nhau.
Nhớ nước, đau ḷng con quốc quốc
Thương nhà, mỏi miệng cái gia gia
Ghi chú: Nhớ đối với thương (động từ ) và trắc đối với bằng. Nước đối với nhà (danh từ ) và trắc đối với bằng. Đau ḷng đối với mỏi miệng (trạng từ ) và bằng đối với trắc. Con quốc quốc đối với cái gia gia (danh từ ) và trắc đối với bằng.
4. Kết (câu thứ 7 và câu thứ 8): Hai câu kết không nhất thiết phải đối nhau, nhưng phải giữ luật bằng trắc.
Dừng chân đứng lại: trời, non, nước,
Một mảnh t́nh riêng ta với ta
(Qua Đèo Ngang - Bà Huyện Thanh Quan)
Ghi chú: Dừng chân là vần bằng đối với một mảnh là vần trắc; đứng lại là vần trắc đối với t́nh riêng là vần bằng; nước là vần trắc đối với ta là vần bằng.
III- Luật Bằng Trắc: Luật Bằng Trắc gồm có Thanh, Luật, và Niêm.
1. Thanh: Gồm có Thanh Bằng và Thanh Trắc.
a) Thanh Bằng: là những tiếng hay chữ không có dấu (như: minh, lan, thanh, trinh...) và những tiếng hay chữ có dấu huyền (ví dụ như: mà, hoàng, thành, tŕnh...)
b) Thanh trắc: Là những tiếng hay chữ có dấu sắc (') dấu hỏi (?) dấu ngă (~) và dấu nặng (.). Ví dụ: Nhớ, tưởng, lữ, vọng…
2. Luật: Thơ bát cú làm theo hai luật: Luật Bằng và Luật Trắc.
a) Luật Bằng: Chữ thứ hai ở câu đầu thuộc vần Bằng. Ví dụ:
Vu vơ dạo bước ngắm trời xinh
Luật Bằng Vần Bằng-Cách dùng mẫu tự và viết tắt như sau: B = Bằng, T = Trắc và V = Vần. Luật Bằng Vần Bằng như sau:
1. B B T T T B B (V)
2. T T B B T T B (V)
3. T T B B B T T
4. B B T T T B B (V)
5. B B T T B B T
6. T T B B T T B (V)
7. T T B B B T T
8. B B T T T B B (V)
Ví dụ:
Mời cô đến với góc vườn thơ
Khánh tiếng lung lay gót nhẹ chờ
Thi vận mực tươi hoa khẽ hé
Hoạ âm giấy liễng nhạc đường tơ
Nghe mưa tí tách buông màn khói
Thử gió vi vu thoảng giấc mơ
Một cách gieo hồn đùa lăng tử
Bài này chớ để ngó chơ vơ
b) Luật Trắc: Chữ thứ hai ở câu đầu thuộc vần Trắc. Ví dụ:
Luyến nhớ trời quê buổi nắng vàng
Luật Trắc Vần Bằng-Luật Trắc Vần Bằng như sau:
1.T T B B T T B (V)
2.B B T T T B B (V)
3.B B T T B B T
4.T T B B T T B (V)
5.T T B B B T T
6.B B T T T B B (V)
7.B B T T B B T
8.T T B B T T B (V)
Ví dụ:
Văng VẲNG tai NGHE tiếng KHÓC ǵ?
Thương CHỒNG nên KHÓC tỉ T̀ tị
Ngọt BÙI, thiếp NHỚ mùi CAM thảo,
Cay ĐẮNG, chàng ƠI, vị QUẾ chị
Thạch NHŨ, trần B̀, sao ĐỂ lại,
Quy THÂN, liên NHỤC, tẩm MANG đị
Dao CẦU, thiếp BIẾT trao AI nhỉ?
Sinh KƯ, chàng ƠI, tử TẮC quỵ
(Bà Lang Khóc Chồng - Hồ Xuân Hương)
Chú Thích: Những chữ IN HOA (chữ thứ 2, 4 và 6) đều phải theo đúng luật, c̣n những chữ khác (trừ chữ ở cuối câu) có thể không cần phải theo luật. Mẹo để nhớ:
Nhất (chữ thứ 1), tam (chữ thứ 3), ngũ (chữ thứ 5) bất luận
Nhị (chữ thứ 2), tứ (chữ thứ 4), lục (chữ thứ 6) phân minh
Nghĩa là chữ thứ nhất, thứ ba và thứ năm không kể (bất luận), tức không nhất thiết phải theo đúng luật; c̣n chữ thứ hai, thứ tư và thứ sáu th́ bắt buộc phải theo luật (phân minh). Nếu không theo luật th́ gọi là thất luật.
3. Niêm-Những chữ phải đi cặp với nhau và dính với nhau
Ví du: Luật Bằng
Câu 1 niêm với câu 8
1.B B T T T B B (V)
8.B B T T T B B (V)
Câu 2 niêm với câu 3
2.T T B B T T B (V)
3.TT B B B T T
Câu 4 niêm với câu 5
4.B B T T T B B (V)
5.B B T T B B T
Câu 6 niêm với câu 7
6.T T B B T T B (V)
7.T T B B B T T
Ví dụ: Luật Trắc
Câu 1 niêm với câu 8
1. T T B B T T B (V)
8. T T B B T T B (V)
Câu 2 niêm với câu 3
2. B B T T T B B (V)
3. B B T T B B T
Câu 4 niêm với câu 5
4. T T B B T T B (V)
5. T T B B B T T
Câu 6 niêm với câu 7
6. B B T T T B B (V)
7. B B T T B B T
Cũng có trường hợp nhà thơ làm sai luật, thay v́ đang ở Luật Bằng th́ lại đổi sang Luật Trắc. V́ Niêm không đi với nhau nên gọi là Thất Niêm.
Ví dụ: Dùng bài thơ Cảnh Làm Lẽ (Lấy Chồng Chung) của Hồ Xuân Hương (đúng niêm luật) để đổi sang thất niêm (xem chữ thứ 2 IN HOA):
Kẻ ĐẮP chăn bông, kẻ lạnh lùng,
Chém CHA cái kiếp lấy chồng chung!
Năm TH̀ mười họa, nên chăng chớ,
Một THÁNG đôi lần, có cũng không...
Cố ĐẤM ăn xôi, xôi lại hỏng,
Cầm BẰNG làm mướn, mướn không công.
Thân NÀY ví biết dường này nhỉ,
Thà TRƯỚC thôi đành ở vậy xong.
Đổi thành thất niêm:
Kẻ ĐẮP chăn bông, kẻ lạnh lùng,
Chém CHA cái kiếp lấy chồng chung!
Cố ĐẤM ăn xôi, xôi lại hỏng *** (thất niêm) ***
Cầm BẰNG làm mướn, mướn không công.
Năm TH̀ mười họa, nên chăng chớ,
Một THÁNG đôi lần, có cũng không...
Thân NÀY ví biết dường này nhỉ,
Thà TRƯỚC thôi đành ở vậy xong.
Chú ư: Dù chỉ đặt sai có một câu (câu thứ 3) nhưng bị thất niêm toàn bài thơ. Thế mới biết luật thơ Đường khắt khe biết dường nào!
Khi làm thơ Đường Luật th́ phải giữ cho đúng niêm luật. Nếu không, dù bài thơ của bạn có nội dung hay mấy đi nữa th́ cũng không thể chấp nhận được.
Như đă nêu ra ở trên là các câu đối với nhau phải thật chỉnh. Có điều là không bắt buộc phải từng chữ một đối nhau mà có thể đối theo cụm từ. Nếu 3 chữ tạo thành nhóm danh từ (ở câu 3 chẳn hạng) th́ ở câu 4 cũng dùng 3 chữ cùng nhóm để đối lại
Ví dụ:
Ngày vương măi nhớ hương t́nh cũ
Tháng quyện hoài mong bóng dáng xưa
(Trích "Xóm Tịnh Chiều Luyến Nhớ" -Vân Hạc)
ngày (danh từ, bằng) đối với tháng (danh từ, trắc)
vương (động từ, bằng) đối với quyện (động từ, trắc)
măi (phó từ, trắc) đối với hoài (phó từ, bằng)
nhớ (động từ, trắc) đối với mong (động từ, bằng).
hương t́nh cũ (cụm danh từ) đối với bóng dáng xưa (cụm danh từ)
B.Thơ Tuyệt Cú
Tuyệt cú theo nghĩa đen là ngắt câụ Là một thể thơ bốn câu (c̣n gọi là tứ tuyệt), có thể là cổ phong hoặc thơ luật, nhưng ư tứ, ư nghĩa phải trọn vẹn, sâu sắc. Cũng phải có mở có kết, có thể hiện nội dung chủ đề ḿnh định nói
Ví dụ:
Chim buồn lẻ bạn chốn thâm sơn
Cánh ngă chao nghiêng ngắm nguyệt thường
Én lạc cô pḥng thương nắng hạ
Diều đây lẻ phận nhớ thu đơn
(Nguyễn Duy)
Lối làm thơ tuyệt cú có thể tuân theo luật bốn câu đầu hoặc bốn câu cuối của ngũ ngôn hoặc thất ngôn. Ở thể cổ phong, thơ tuyệt cú càng rộng răi hơn, các câu thơ không cần đối, không phụ thuộc luật bằng trắc, miễn là ư tứ sâu sắc, lời đẹp, giầu âm điệu ...
Phong Kiều Dạ Bạc (Trương Kế )
Nguyệt lạc ô đề sương măn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền
Đêm thuyền đậu bến Phong Kiều (Bản dịch của Tản Đà)
Trăng tà, chiếc quạ kêu sương,
Lửa chài, cây bến, sầu vương giấc hồ.
Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.
(Sưu tầm)